|
VietCatholicNews 07/12/2007)
THÔNG ĐIỆP
SPE
SALVI
CỦA
ĐỨC THÁNH CHA
BÊNÊĐÍCTÔ XVI
GỞI
CÁC ĐỨC GIÁM MỤC
CÁC LINH MỤC VÀ PHÓ TẾ
CÁC NAM NỮ TU SĨ
VÀ TẤT CẢ ANH CHỊ EM TÍN HỮU
VỀ NIỀM HY VỌNG KITÔ GIÁO
Dẫn Nhập
1. “SPE SALVI facti sumus
” —Chúng ta được cứu rỗi
trong hy vọng, Thánh Phaolô
đă nói như thế với dân chúng
thành Rôma, cũng như với
chúng ta (Rom 8:24).
Theo niềm tin Kitô, “ơn cứu
chuộc” – hay ơn cứu độ -
không chỉ đơn giản là một
điều được trao ban. Ơn cứu
chuộc được ban cho chúng ta
theo nghĩa là chúng ta đă
được trao cho hy vọng – một
niềm hy vọng đáng tin cậy,
qua đó, chúng ta có thể đối
diện với thực tại của chúng
ta: thực tại mà cho dù là
cam go đi nữa cũng có thể
sống được và chấp nhận được
nếu nó dẫn đến một mục đích,
nếu chúng ta có thể được bảo
đảm về mục đích này, và nếu
mục đích này cao cả đến mức
biện minh được cho nỗ lực
cam go của cuộc hành tŕnh.
Giờ đây, một câu hỏi được
đặt ra là: niềm hy vọng nào
có thể biện minh được cho
khẳng định là, trên cơ sở
của niềm hy vọng đó và chỉ
v́ niềm hy vọng đó tồn tại,
mà chúng ta được cứu chuộc?
Và ở đây mức độ chắc chắn là
bao nhiêu?
Đức Tin là Hy Vọng
2. Trước khi hướng đến những
câu hỏi thời sự này, chúng
ta cần lắng nghe gần hơn một
chút với chứng tá của Thánh
Kinh về hy vọng. “Hy vọng”,
thực ra, là một từ chủ yếu
trong Thánh Kinh – đến mức
trong nhiều đoạn những từ
“đức tin” và “hy vọng” dường
như có thể hoán chuyển cho
nhau. V́ thế Thư Do Thái
liên kết chặt chẽ “sự viên
măn của đức tin” (10:22) với
“sự tuyên xưng cách quả
quyết niềm hy vọng của chúng
ta” (10:23). Cũng thế, trong
thư Thứ Nhất, khi Thánh
Phêrô khích lệ các Kitô hữu
hăy luôn luôn sẵn sàng đưa
ra câu trả lời liên quan đến
logos – ư nghĩa và lư
do –cho niềm hy vọng của họ
(x. 3:15), th́ từ “hy vọng”
là tương đương với từ “đức
tin”. Chúng ta thấy sự hiểu
biết về chính ḿnh của các
tín hữu Kitô sơ khai đă được
h́nh thành mạnh mẽ đến mức
nào khi họ nhận được hồng ân
của một niềm hy vọng đáng
tin cậy, hay khi chúng ta so
sánh cuộc sống Kitô với cuộc
sống trước khi có đức tin,
hay với t́nh trạng của các
tín hữu thuộc các tôn giáo
khác. Thánh Phaolô nhắc nhở
dân thành Êphêsô rằng trưóc
khi gặp gỡ Chúa Kitô, họ
sống “không hy vọng và không
có Thiên Chúa trên đời” (Eph
2:12). Dĩ nhiên, thánh nhân
biết rơ họ đă từng có những
thần minh, ngài biết là họ
đă từng có tín ngưỡng, nhưng
những thần minh của họ đă
cho thấy là đáng ngờ vực, và
chẳng có tia hy vọng nào loé
lên từ những huyền thoại đối
kháng nhau.
Dù có bao nhiêu thần minh đi
nữa, họ sống “không có Thiên
Chúa” và hệ quả là họ thấy
ḿnh sống trong một thế giới
tối tăm, đối diện với tương
lai mịt mù. Một điếu văn
trong thời kỳ này có đoạn
viết: In nihil ab nihilo
quam cito recidimus
(Chúng ta nhanh chóng rơi từ
hư vô này đến hư vô khác)
1. Trong câu này,
chúng ta thấy những khía
cạnh bất định mà Thánh
Phaolô đă chỉ ra. Cũng thế,
ngài nói với dân thành
Thêsalônia: anh em “đừng
buồn sầu như những kẻ không
có niềm hy vọng” (1 Th
4:13). Ở đây, chúng ta thấy
một dấu chỉ nổi bật của
những tín hữu Kitô: họ có
tương lai, không phải là họ
biết tường tận chi tiết về
những ǵ đang chờ đợi họ,
nhưng họ biết cách tổng quát
là cuộc sống của họ không
kết thúc trong hư không. Khi
tương lai được bảo đảm như
một thực tại tích cực th́
lúc đó hiện tại trở nên có
thể sống được. V́ thế, giờ
đây chúng ta có thể nói
rằng: Kitô Giáo không chỉ là
một “tin mừng” – theo nghĩa
là một thông điệp về một
điều chưa từng được biết.
Trong ngôn ngữ thời nay,
chúng ta có thể nói: thông
điệp Kitô Giáo không chỉ là
có tính “thông tin”
(“informative”) nhưng c̣n có
tính “tác động”
(“performative”). Nghĩa là:
Tin Mừng không chỉ là một
thông truyền về những sự
việc có thể thông biết –
nhưng là một điều khiến các
sự kiện xảy ra và thay đổi
cuộc sống. Cánh cửa mịt mù
tăm tối của thời gian, của
tương lai, đă được mở toang.
Ai có niềm hy vọng th́ sống
khác biệt hẳn; v́ người có
niềm hy vọng đă được ban cho
cho hồng ân một cuộc sống
mới.
3,
Nhưng, ở đây lại nảy sinh
một câu hỏi khác: niềm hy
vọng này chứa đựng điều ǵ
khi được coi là niềm hy vọng
“giải thoát”? Cốt lơi của
câu trả lời được chỉ ra
trong một câu từ Thư gởi
các tín hữu thành Êphêsô
được trích dẫn bên trên: các
tín hữu thành Êphêsô trước
khi gặp gỡ Chúa Kitô đă sống
không có niềm hy vọng v́ họ
sống “không có Chúa trong
đời”. Nhận biết Thiên Chúa -
Thiên Chúa thật – nghĩa là
nhận lấy hy vọng. Chúng ta,
những người đă từng luôn
sống với khái niệm Kitô Giáo
về Thiên Chúa, và đă trở nên
quen thuộc với khái niệm
này, dường như đă ngừng chú
ư rằng chúng ta mang trong
ḿnh một niềm hy vọng nảy
sinh từ cuộc gặp gỡ với vị
Thiên Chúa này. Gương của
một vị thánh trong thời đại
chúng ta, ở một mức độ nào
đó, có thể giúp hiểu được ư
nghĩa của cuộc gặp gỡ thực
sự lần đầu tiên với vị Thiên
Chúa đó. Tôi nghĩ đến thánh
nữ Josephine Bakhita người
Phi Châu, đă được Đức Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II tôn
phong hiển thánh. Ngài sinh
tại Darfur bên Sudan khoảng
1869 – chính ngài không biết
ngày sinh chính xác của ḿnh
là ngày nào. Khi lên 9, ngài
bị bắt cóc bởi những kẻ buôn
bán nô lệ, bị đánh đập đổ
máu, và bị bán đi bán lại
đến 5 lần trong các chợ buôn
nô lệ tại Sudan. Cuối cùng,
ngài sống như nô lệ trong
nhà thân mẫu và phu nhân của
một vị tướng, và ở đó, hàng
ngày ngài bị đánh đập toé
máu; và hệ quả là ngài phải
mang trong người 144 vết
thẹo đến hết cuộc đời. Cuối
cùng, năm 1882, một thương
gia người Ư đă mua ngài cho
viên lănh sự Ư Callisto
Legnani, người đă trở về
Italia khi quân Mahdists nổi
dậy. Ở đó, sau “những ông
chủ” đáng sợ, những người đă
làm chủ ngài cho đến lúc đó,
Bakhita đă biết đến một “tôn
chủ” hoàn toàn khác hẳn, một
tôn chủ mà ngài đă dùng từ
“Paron” trong phương
ngữ Vênêtia, thứ tiếng ngài
đang học, để nói về Thiên
Chúa hằng sống, về Chúa
Giêsu Kitô. Cho đến khi đó,
ngài chỉ biết đến những ông
chủ khinh miệt và đối xử tàn
tệ với ngài, hay cùng lắm là
coi ngài như một con nô lệ
hữu dụng. Tuy nhiên, giờ
đây, ngài nghe nói đến một
“Paron” vượt lên mọi
ông chủ, Chúa của các chúa,
và vị Thiên Chúa đó thiện
hảo, một sự thiện hảo tự
trong bản tính. Ngài nhận ra
rằng Thiên Chúa thậm chí c̣n
biết đến ngài, và Người đă
tạo ra ngài, và yêu thương
ngài thật sự. Bakhita cũng
đă được yêu thương, không
phải bởi ai khác hơn là vị
“Paron” tối cao này,
Đấng mà trước mặt Người mọi
thứ ông chủ khác, chính họ,
không hơn ǵ những tôi tớ
thấp hèn. Bakhita thấy ḿnh
được biết đến, được yêu
thương, và được chờ đón. Hơn
thế nữa, chính vị tôn chủ
này cũng đă từng chấp nhận
số phận bị đánh đ̣n và giờ
đây Ngài đang chờ Bakhita ở
“bên hữu Chúa Cha”. Giờ đây
Bakhita có “hy vọng” – không
phải cái hy vọng khiêm
nhường là t́m được một ông
chủ ít tàn nhẫn nhất nhưng
là một niềm hy vọng lớn lao:
“Tôi nhất định được yêu
thương và dù điều ǵ xảy đến
cho tôi – tôi vẫn đang được
chờ đón bởi T́nh Yêu này. Và
v́ thế đời tôi thật là đẹp”.
Nhờ nhận biết niềm hy vọng
này, ngài được “giải thoát”,
không c̣n là một nô lệ nữa
nhưng là một con cái tự do
của Thiên Chúa. Bakhita hiểu
được điều mà Thánh Phaolô đă
nhắc nhở dân thành Êphêsô là
trước đây họ sống vô vọng và
không có Thiên Chúa trong
đời – không có hy vọng v́
không có Thiên Chúa. Thành
thử, khi sắp được đưa trở
lại Sudan, Bakhita đă từ
khước; ngài không muốn bị
tách biệt lần nữa khỏi
“Paron” của ḿnh. Ngày 9
tháng Giêng năm 1890, ngài
được rửa tội, được chịu phép
thêm sức và được rước Ḿnh
Thánh Chúa lần đầu từ tay vị
Thượng Phụ thành Venice.
Ngày 8 tháng Mười Hai năm
1896, tại Verona, ngài được
tuyên khấn trong Cộng Đoàn
các Nữ Tu ḍng Canossia và
từ đó bên cạnh công việc
trong pḥng thánh và trong
nhà trực cửa tại tu viện,
ngài đă thực hiện nhiều
chuyến du hành ṿng quanh
Italia nhằm đề cao việc
truyền giáo: Ngài thấy rằng
ơn giải thoát mà ngài đă
nhận được qua sự gặp gỡ với
Chúa Kitô cần phải được mở
rộng, cần phải được trao cho
những người khác, đông hết
sức có thể. Niềm hy vọng đă
hạ sinh trong ngài, đă “giải
thoát” ngài, không thể chỉ
giữ cho riêng ḿnh; niềm hy
vọng đó phải được lan tỏa
đến nhiều người, đến mọi
người. |